jump to navigation

Top các công cụ khắc phục sự cố miễn phí cho Windows Tháng Chín 28, 2010

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Không máy tính nào có thể chạy hoàn hảo mãi mãi. Cùng với thời gian, hệ thống của bạn sẽ bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu gì đó. Để khắc phục những vấn đề này, bạn cần phải có trong tay rất nhiều công cụ khắc phục sự cố. Đây là số công cụ khắc phục sự cố miễn phí hàng đầu cho hệ điều hành Windows.

Process Explorer của Sysinternals

“Task Manager trên cơ thể sống” – đó là cách một số người miêu tả Process Explorer khi Mark Russinovich lần đầu tiên phát hành nó cách đây nhiều năm. Công cụ này có thể thay thế cho Task Manager hoặc chạy bên cạnh nó, tuy nhiên dù có sử dụng theo cách nào chăng nữa thì nó vẫn là một thứ cần phải có đối với những người dùng có nhiều kinh nghiệm. Bạn có thể sử dụng Process Explorer mà không cần phải cài đặt.

Khi khởi chạy Process Explorer, bạn sẽ thấy một khung nhìn hình cây hiển thị các quá trình; có thể kích vào phần header của cột để thay đổi cách phân loại theo ý mình. Phần trên của cửa sổ có bốn biểu đồ: hiệu suất CPU, lược sử chữa trị, lược sử các byte vào/ra và lược sử bộ nhớ vật lý. Kích vào bất cứ một biểu đồ nào, bạn sẽ thấy xuất hiện một cửa sổ khá giống với tab Performance trong Task Manager – tuy nhiên có mức chi tiết và nhiều thông tin hơn về những chương trình gì đang làm việc mà Task Manager không có.

Kích đúp vào tên của một quá trình (process), bạn sẽ thấy xuất hiện một cửa sổ với rất nhiều thông tin khác: các thread đang chạy của quá trình (và ngăn xếp cho mỗi thread), thứ có thể bị đóng băng hay bị hủy; các điều khoản; truy cập mạng; chương trình được khởi chạy; thậm chí cả các chuỗi văn bản trong image chương trình trên đĩa hoặc copy trong bộ nhớ của nó. Các quá trình hoặc toàn bộ các cây trong chúng đều có thể bị hủy, đóng băng, tiếp tục lại hoặc có thể thay đổi các cửa sổ hoặc thứ tự ưu tiên của chúng – cách thức này hết sức hữu dụng nếu một cửa sổ quá trình bị biến mất sau một vấn đề gì đó và bạn cần đẩy nó lên trước. Bạn cũng có thể bật hoặc tắt panel thấp hơn có chứa các thông tin chi tiết về một quá trình, tìm quá trình cho một cửa sổ nào đó bằng cách trỏ tới nó hoặc tìm kiếm bằng tên cho bất cứ quá trình hay file nào có đuôi DLL đang được chạy.

System Information for Windows

Có thể bạn sẽ bất ngờ về việc một công cụ miễn phí được đóng gói như tiện ích này. System Information for Windows, được viết tắt là SIW, có thể sử dụng để thay thế cho rất nhiều chương trình. Bạn có thể sử dụng nó để kết xuất một số hệ thống hoặc dữ liệu ứng dụng hay thứ gì đó. SIW có thể liệt kê các khóa đăng ký ứng dụng, điều tra thông tin phần cứng được cài đặt, hiển thị nhiệt độ thiết bị, phân hạng mục các mã multimedia đã được cài đặt – và danh sách này còn chưa dừng ở đây.

SIW được tổ chức thành bốn hạng mục cơ bản. Ba trong số chúng được bạn có thể thấy thông qua khung nhìn hình cây phía bên trái cửa sổ chương trình: Software, Hardware và Network. Kích vào bất kỳ một mục nào đó trong các mục này, bạn sẽ thấy phía bên phải cửa sổ xuất hiện các dữ liệu tương ứng. Quá trình truy tìm có thể bắt bạn phải đợi, đặc biệt là những vấn đề giống như danh sách thiết bị, vì vậy không nên bất ngờ trước việc bạn phải chờ đợi lâu trước khi SIW “lôi” được những thông tin cần thiết về cho bạn.

Hạng mục thứ tư là một loạt các công cụ hỗn tạp trong menu Tools sổ xuống của chương trình. Đây là những thứ mà tác giả làm ra công cụ này không xếp chúng vào đâu được trong ba hạng mục trên nhưng vẫn muốn gộp chúng vào ứng dụng của mình. Ở đây có rất nhiều thứ thú vị như Eureka, một cách để lộ diện trực quan các trường mật khẩu trong hầu hết các chương trình; công cụ để gửi gói wake-on-LAN đến địa chỉ MAC; hay công cụ kết xuất BIOS; Base64/UUencoder-decoder, test CPU,… SIW thậm chí còn có thể chạy trong môi trường khôi phục của Windows.

Lưu ý: SIW hầu như là chỉ đọc. Tuy nó có thể liệt kê và kết xuất rất nhiều thông tin hệ thống, nhưng lại không cho phép bạn thay đổi các thiết lập đó. Cho ví dụ, nếu muốn vô hiệu hóa hoặc kích hoạt ActiveX control được liệt kê thông qua SIW, bạn cần thực hiện qua tiện ích của một hãng khác như ActiveXHelper của Nirsoft chẳng hạn.

BlueScreenView

Trong Windows, việc xử lý với “màn hình xanh chết chóc” (hay vẫn được viết tắt là BSOD) là cả một vấn đề. Ngoài vấn đề khó hiểu và khó giải mã – đặc biệt do một số BSOD có thể có nhiều nguyên nhân – chúng còn gây ra nhiều phiền nhiễu. Cứ cho là, BSOD ít xuất hiện vào thời điểm hiện nay, tuy nhiên khi gặp phải, bạn có rất ít sự lựa chọn để khắc phục. Sau khi xử lý với một loạt những hành động để khắc phục sự cố BSOD, chúng tôi đã phát hiện được một số công cụ có thể phân tích BSOD và tìm ra nguyên nhân của hiện tượng này: BlueScreenView.

Khi một BSOD xuất hiện, các kết quả sẽ được lưu vào một file kết xuất dành cho việc kiểm tra sau. BlueScreenView có thể quét toàn bộ các file này trong hệ thống và tạo một báo cáo về chúng, bạn có thể đọc báo cáo này bên ngay trong BlueScreenView hoặc lưu vào dưới dạng HTML để phân tích. Mỗi dòng trong báo cáo đều biểu thị mã đổ vỡ của BSOD, thời gian và ngày xuất hiện, các tham số hợp quy cách với vụ đổ vỡ (rất hữu dụng cho việc gỡ rối), thêm vào đó là một số thông tin chi tiết. Các kết quả đều có thể tìm kiếm, vì vậy bạn có thể tìm ra một mã đổ vỡ, driver, dll cụ thể mà bạn nghĩ có thể xuất hiện.

Một vấn đề khá thú vị khác mà BlueScreenView có thể thực hiện là liệt kê tất cả driver thiết bị đang hoạt động tại thời điểm đổ vỡ xảy ra. Nếu một driver nào đó bị liệt vào danh mục nguyên nhân gây ra đổ vỡ, khi đó nó sẽ được cắm cờ và được hiển thị màu đỏ. Bạn cũng có thể lọc ra tất cả các driver khác được load tại một thời điểm nào đó nếu muốn tập trung vào thủ phạm. Bên cạnh đó cũng có thể load các file kết xuất đã được copy vào từ đâu đó bằng cách trỏ đến một thư mục hoặc thậm chí từ các máy tính khác có thể truy cập từ mạng nội bộ (bạn cần phải có đặc quyền để thực hiện điều này).

Tuy nhiên BlueScreenView có một nhược điểm nhỏ có liên quan đến chức năng báo cáo. Nếu muốn in ra cả thông báo đổ vỡ và ngăn xếp driver tham dự của nó, bạn phải xử lý chúng như các báo cáo riêng biệt. Điều đó nói nên rằng, thông báo đổ vỡ sẽ liệt kê driver đang được cung cấp; nếu không còn gì nữa, bạn có thể sử dụng báo cáo BSOD cơ bản để tìm ra tất cả các thông tin quan trọng khác.

Autoruns của Sysinternals

Một trong những điều khó chịu trong quá trình sử dụng Windows có thể nói là một số phần mềm thường yêu cầu được đưa vào hệ thống để khởi chạy lúc startup dù bạn có thực sự cần thiết nó hay không. Drivers của Scanner và printer cũng là một trong những phần mềm kiểu như vậy. Chúng thường đòi hỏi cài đặt một cụm các tiện ích cư trú trong khay hệ thống.

Autoruns – một sản phẩm của Mark Russinovich, tiện ích này không chỉ “nhổ” tận rễ những “nỗi bực mình” này mà nó còn cung cấp cho bạn nhiều thứ thú vị khác. Autoruns có thể thăm dò hệ thống của bạn và kết xuất ra các danh sách chương trình và các thành phần hệ thống khởi chạy tự động – từ các ứng dụng trong thư mục Startup đến các nhiệm vụ được lập lịch biểu, từ các dịch vụ đến driver thiết bị, từ các gadget nằm trong Sidebar đến các mã chương trình. Mặc định, chương trình sẽ kết xuất dữ liệu phù hợp với ngữ cảnh người dùng, tuy nhiên menu User của chương trình cho phép bạn có thể chuyển đổi các ngữ cảnh. (Bạn cần chạy chương trình với quyền quản trị viên).

Autoruns có thể sắp xếp các khung nhìn của nó vào hệ thống theo các tab (Logon, Services, Explorer, Internet Explorer, Drivers), điều này làm cho nó dễ dàng sổ xuống các mục mà bạn cần quan tâm. Bạn có thể vô hiệu hóa bất kỳ ứng dụng hoặc dịch vụ nào mà không cần xóa thực sự nó, đơn giản chỉ cần bằng cách hủy chọn hộp kiểm hoặc có thể gỡ bỏ hoàn toàn với một lựa chọn từ menu chuột phải. Menu tương tự đó cũng có các tùy chọn cho việc nhảy sang các entry của các dịch vụ trong Registry, thẩm định chữ ký mã và tra cứu trên Google.

Chọn Options | Hide Microsoft và Windows Entries, khi chạy Autoruns hoặc kích Refresh, bạn sẽ chỉ thấy các ứng dụng của các hãng thứ ba – cách thức này giúp bạn tập trung vào các chương trình được bổ sung thêm vào Windows sau khi cài đặt, từ đây bạn có thể tìm ra vấn đề của mình. Nếu Process Explorer hiện đang chạy, bạn có thể kích phải vào một mục nào đó và làm xuất hiện trang Properties trong Process Explorer, giả định mục đã nói đang chạy.

Autoruns cũng có một phiên bản dòng lệnh, phiên bản này có thể được sử dụng với các kịch bản hoặc kỹ thuật tự động khác.

WinDirStat

Chắc chắn sẽ có lúc bạn tự hỏi không biết tất cả không gian đĩa của mình biến đi đâu? Câu trả lời có thể được tìm thấy bằng thông qua tiện ích WinDirStat. WinDirStat sẽ tạo ra cho bạn một báo cáo đồ họa dễ hiểu về hiệu suất sử dụng đĩa, cho phép bạn thấy được một cách dễ dàng các file nào hoặc các thư mục nào bị để ẩn bên trong cây thư mục nhưng lại có dung lượng rất lớn.

Khởi chạy chương trình, bạn sẽ nhận được yêu cầu chọn một hoặc nhiều ổ đĩa hoặc thư mục trong hệ thống, những mục mà bạn chọn sẽ được đưa đi phân tích về hiệu suất sử dụng không gian. Phân tích này có thể tiêu tốn một lượng thời gian nào đó tùy thuộc vào số lượng file hoặc thư mục nằm trong ổ đĩa; bạn có thể để chương trình tự chạy trong chế độ background để có thể thực hiện các công việc khác.

Khi việc phân tích được hoàn thành, các kết quả sẽ xuất hiện trong dưới dạng bản đồ hình cây, các file tiêu tốn nhiều không gian sẽ được biểu thị bằng các khối màu lớn. Cách thức hiển thị này làm cho bạn có thể dễ dàng nhận biết được đâu là file chiếm nhiều không gian ổ đĩa của mình nhất. Khi kích vào bất cứ khối màu nào, phần trên trong cửa sổ chương trình sẽ hiển thị file tương ứng với thư mục của nó thông qua một khung nhìn hình cây dễ quan sát. Bạn cũng có thể sử dụng khung nhìn hình cây này để tìm ra hiệu suất không gian có liên quan đến file hoặc thư mục cần xác định. Cuối cùng, các file được mã màu theo kiểu để bạn có thể dễ dàng nhận biết khi nhìn thoáng qua để biết được kiểu file nào chiếm dụng nhiều không gian nhất.

Chương trình cũng có thể giúp bạn thực hiện các hoạt động cleanup. Bằng cách kích phải vào một file hoặc thư mục nào đó, bạn có thể xóa chúng (chuyển vào Recycle Bin hoặc xóa một cách trực tiếp). Bên cạnh đó ban cũng có thể mở một dòng lệnh hoặc cửa sổ Explorer trên thư mục hoặc file.
Unlocker và OpenedFilesView

Đây là một kịch bản mà có lẽ hầu hết chúng ta đều đã gặp phải: không thể phát hiện một file nào đó vì nó đang trong sử dụng. Windows Vista và Windows 7 có thể tỏ ra ưu việt hơn đôi chút trong việc thông báo cho người dùng biết về chương trình nào đang sử dụng file đó, tuy nhiên đôi khi lại làm bạn cảm thấy khó khăn trong việc chỉ ra cửa sổ nào cần phải đóng.

Ở đây chúng tôi giới thiệu cho các bạn hai chương trình có thể giúp bạn giải phóng nỗi bực mình này. Đầu tiên cần phải nhắc đến đó là tiện ích Unlocker của Cedrick Collomb, đây là một trong những tiện ích được nhiều người biết đến và ưu thích. Tiện ích thứ hai tuy có kém được biết đến hơn nhưng vẫn là một tiện ích rất có giá trị, đó là OpenedFilesView (được cung cấp bởi Nir Sofer, tác giả của BlueScreenView). Cả hai đều thực hiện một nhiệm vụ giống nhau: phát hiện quá trình khóa file và cho phép bạn giải phóng nó bằng cách hủy quá trình can thiệp vào file. Mặc dù vậy cách thức thực hiện của chúng lại rất khác nhau.

Unlocker chạy lặng lẽ trong chế độ background và được thêm vào trong menu chuột phải trong Explorer. Nếu bạn muốn biết vấn đề gì đang khóa một file nào đó, chỉ cần kích phải vào chọn Unlocker. Từ đây bạn có giải phóng các quá trình đang khóa file của bạn, tạo một copy của file, hoặc gỡ bỏ các khóa mà quá trình đang áp đặt lên file.

OpenedFilesView lại cung cấp cho bạn một danh sách cập nhật thường xuyên tất cả các file hiện bị khóa bởi các quá trình, danh sách này có thể được phân loại và tìm kiếm. Chương trình cũng đưa ra các kiểu hành động giống như Unlocker tuy nhiên OpenedFilesView lại không hỗ trợ hành động xóa một file bị khóa hoặc tạo một copy.

Nhược điểm chính đối với cả hai Unlocker và OpenedFilesView là kém trong hỗ trợ 64-bit. Unlocker không làm việc trong tất cả các hệ điều hành Windows 64-bit. Còn OpenedFilesView tuy có một phiên bản 64-bit nhưng yêu cầu bạn phải vô hiệu hóa một số thứ và yêu cầu phải khởi động lại hệ thống.

Khắc phục 10 lỗi trên Windows 7 Tháng Chín 28, 2010

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Windows 7 nhanh hơn Vista, với nhiều tính năng thú vị, giao diện đẹp mắt, nhưng không hẳn đã thật sự hoàn hảo. Sau đây là 10 lỗi thông thường và cách khắc phục.

Windows 7 tương đối hoàn hảo, nhưng có thể bạn vẫn sẽ gặp phải những trục trặc nho nhỏ

1. Không tìm thấy ổ DVD

Trong một số trường hợp, có thể Windows 7 sẽ không tìm thấy ổ đĩa DVD, ngay cả khi bạn thấy thông tin trên BIOS và đã sử dụng driver chuẩn.

Giải pháp sau đây sẽ khắc phục lỗi này: chạy lệnh REGEDIT:

Tới nhánh: HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Class\ và xóa cả UpperFilters và LowerFilters bên phía phải.

Nếu vẫn chưa có gì thay đổi, hãy thử đổi tên ổ đĩa. Nhấp vào Start, nhập Disk Management và chọn liên kết “Create and format hard disk partitions”. Nếu ổ đĩa quang hiển thị, hãy nhấp chuột phải, chọn Change Drive Letter and Paths, chọn Change và nhập tên mới. Nếu ổ đĩa quang hiển thị trên Explorer, bạn chỉ cần lặp lại quá trình đổi tên ổ đĩa như trên. Trong trường hợp ổ đĩa DVD không hiển thị, hãy khởi động lại máy và mọi chuyện sẽ được giải quyết.

2. Aero không hoạt động

Nếu Windows 7 vẫn chưa “khoe sắc”, có lẽ do hệ thống chưa bật giao diện Aero. Hãy nhấp vào Start, gõ Aero, chọn liên kết “Find and fix problems with transparency and other visual effects”, và nhấp vào Next để chạy trình thuật sĩ phân tích chữa lỗi liên quan tới giao diện Aero. Nếu trình thuật sĩ này vẫn chưa khắc phục được lỗi, bạn nên cài đặt lại gói driver mới nhất của hệ thống phần cứng hỗ trợ xử lý đồ họa.

Một số tính năng của giao diện Aero có thể bị tắt trên Registry. Chẳng hạn nếu Aero Peek không làm việc, bạn hãy gọi REGEDIT, chọn nhánh: HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\DWM và đặt giá trị EnableAeroPeek thành 1.

3. Trục trặc với Aero Snap

Tính năng mới hỗ trợ di chuyển và thay đổi kích cỡ các cửa sổ trên Windows 7 nhận được đánh giá khá cao của người dùng. Nhưng rất có thể bạn sẽ gặp phải tình trạng các cửa sổ di chuyển xung quanh không như mong muốn, do tính năng Aero Snap hoạt động trục trặc, lúc này chỉ cần tắt chúng đi trong giây lát.

Mở Control Panel, chọn Ease of Access, mở “Change how your mouse works” (thay đổi cách xử lý của chuột) hoặc “Change how your keyboard works” (thay đổi cách xử lý của bàn phím). Tiếp đến chọn phần “Make it easier to manage windows”, đánh dấu kiểm “Prevent windows from being automatically arranged when moved to the edge of the screen”, nhấp OK và các cửa sổ chương trình sẽ không còn di chuyển lộn xộn cho đến khi bạn đặt lệnh cụ thể.

4. iPhone không đồng bộ với Windows 7

Một lỗi chưa được xác định: hệ thống nhận ra iPhone/iPod Touch nhưng không thể kết nối với thiết bị

Không ít người dùng iPhone than phiền về tình trạng trục trặc khi đồng bộ iPhone với hệ điều hành Windows mới, đặc biệt là phiên bản 64 bit, sử dụng chipset P55. Hệ điều hành vẫn nhận ra iPhone, nhưng iTunes lại thông báo không thể kết nối vì một lỗi chưa được xác định (0xE8000065).

Bạn có thể chữa lỗi này bằng cách tắt hệ thống quản lý USB. Vào Start, gõ DEVMGMT.MSC và nhấp Enter để chạy Device Manager. Sau đó, click View > Devices By Type. Mở Universal Serial Bus, nhấp chuột phải và chọn USB Root Hub. Chọn Properties > Power Management và xóa “Allow the computer to turn off this device to save power”.

Khởi động lại PC để hoàn tất.

5. Giao diện Windows 7 thay đổi các biểu tượng của bạn

Windows 7 mang đến rất nhiều giao diện đẹp mắt. Người dùng còn có thể chọn và tải về trên trang web của Microsoft. Tuy nhiên, khi cài đặt rất có thể bạn sẽ gặp phải một số vấn đề về hiệu ứng. Nếu trước đó bạn đã thay đổi biểu tượng của hệ thống như Computer hay Recycle Bin, lúc này chúng có thể sẽ biến mất, thay thế bằng biểu tượng tương ứng có trong các gói giao diện.

Để tránh điều này, bạn click chuột phải vào một điểm trống nào đó trên màn hình nền. Chọn Personalize > Change Desktop Icons, bỏ chọn hộp kiểm “Allow themes to change desktop icons”, nhấp OK. Các biểu tượng của bạn sẽ được giữ lại. Lúc này, muốn thay đổi bạn sẽ phải thực hiện từng bước một bằng các thao tác cài đặt thông số.

6. Trục trặc với Taskbar

Nhiều người dùng không hài lòng lắm với thanh tác vụ của Windows 7, nhất là các nút, khó có thể nhanh chóng phân biệt đâu là biểu tượng của một chương trình đang chạy, đâu là một shortcut được giữ. Có một cách dễ dàng để khôi phục các nút trên thanh tác vụ chuẩn, đó là nhấp chuột phải vào Taskbar, chọn Properties, đặt giá trị của Taskbar Buttons thành “Never combine” (không gộp các nút) hay “Combine when taskbar is full” (chỉ gộp các nút khi thanh taskbar đã sử dụng hết không gian).

Bạn còn có thể khôi phục thanh công cụ Quick Launch cũ bằng một vài click chuột. Nhấp chuột phải vào Taskbar, chọn Toolbars > New Toolbar, gõ %userprofile%\AppData\Roaming\Microsoft\Internet Explorer\Quick Launch vào hộp thư mục và click Select Folder. Thanh công cụ Quick Launch sẽ hiển thị trở lại, bạn có thể di chuyển và thay đổi kích cỡ theo ý muốn.

7. Mất các thư mục hệ thống trên Explorer

Click vào Start > Computer trên Windows 7, bạn sẽ thấy các thư mục hệ thống như Control Panel và Recyle Bin không hiển thị trên khung phía trái của Explorer. Để khắc phục, bạn có thể click vào Tools > Folder Options, chọn “Show all folders”, nhấp OK và các thư mục hệ thống quan trọng nhất sẽ hiển thị trở lại.

8. Thiếu các ứng dụng mở rộng thường có trên Windows

Chọn ứng dụng muốn cài với gói Windows Live Essential

Quá trình cài đặt Windows 7 diễn ra khá nhanh chóng và chiếm dụng không quá nhiều không gian ổ đĩa như bạn tưởng tượng. Tuy nhiên, một số ứng dụng quen thuộc trên các phiên bản Windows trước như Mail, Movie Maker, Photo Gallery… đã bị loại bỏ. Thay vào đó bạn phải tải về và cài đặt gói ứng dụng mở rộng Windows Live Essential.

Mặc dù vậy, quá trình cài đặt Live Essential có thể khiến bạn phải chào đón những chương trình không mong muốn như Active X, hỗ trợ tải dữ liệu lên Windows Live SkyDrive hay Windows Live Sign-In Assistant, ứng dụng hỗ trợ chuyển đổi giữa các tài khoản Windows Live. Do đó, nếu bạn chỉ sử dụng một tài khoản Live duy nhất và không có ý định dùng Live SkyDrive, hãy gỡ bỏ chúng một cách an toàn bằng cách vào Control Panel Uninstall A Program.

9. Quá nhiều minidumps

Theo mặc định, Windows 7 lưu 50 tập tin minidump gần đây nhất (các ảnh bộ nhớ được lưu lại khi PC bị lỗi và tắt đột ngột). Nếu bạn không hứng thú với tính năng này, các tập tin minidumps sẽ trở thành “gánh nặng” cho ổ đĩa.

Để giải quyết, bạn hãy chạy REGEDIT, chọn nhánh HKEY_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\CrashControl và đặt giá trị cho MiniDumpsCount thành 1.

Windows sẽ chỉ lưu lại một tập tin minidump duy nhất để giải phóng ổ đĩa.

10. Các định dạng tập tin ẩn

Để hiển thị các định dạng tập tin (theo mặc định là ẩn), bạn chỉ cần chạy Explorer và click vào Tools > Folder Options > View.

Xóa “Hide extensions for known file types” để hiển thị định dạng tập tin, giảm rủi ro khi sử dụng, vì những tập tin giả mạo như virus.txt.exe có thể đánh lừa bạn.

Nếu bạn đang gặp trục trặc với virus, hãy gọi Explorer và chọn “Show hidden files and folders” cũng như bỏ chọn “Hide protected operating system files”, để dễ dàng xác định “danh tính” của virus đang phá hoại.

Tính năng bảo mật trong Windows 7 Tháng Chín 28, 2010

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Windows 7 có thể được coi là bước đầu hoàn thiện những tính năng bảo mật cao cấp của dòng hệ điều hành Windows, sau những tính năng cơ bản của XP, những thử nghiệm mới của Vista. Bài viết này liệt kê, giới thiệu những gì mà Microsoft kì vọng sẽ làm mọi người thay đổi cái nhìn về an toàn trên Windows. Qua bài viết người đọc cũng sẽ làm quen với một số thuật ngữ mới trong hệ thống phân phối Windows vì không phải tất cả những phiên bản Windows 7 đều có các đặc tính bảo mật như nhau. Có thể những bạn đọc thường xuyên của blog này hoặc quen thuộc với các hệ điều hành nguồn mở sẽ thấy ngạc nhiên vì nhiều điểm tương đồng giữa các công nghệ mới của M$ được giới thiệu ở đây với những gì đã có ở Ubuntu/RedHat/Asianux từ rất lâu. Có thể sẽ có vài bài viết phân tích về những điểm tương đồng này trong tương lai.
Mục lục
AppLocker
User Account Control
BitLocker
BitLocker To Go
Internet Explorer Version 8 Security
DirectAccess
Windows Services Hardening
Windows Firewall
ASLR, DEP and Safe Unlinking
USB Device Control
Kernel Patch Protection and Signed Device Drivers With 64-Bit Windows 7
Network Access Protection
Windows Defender
Domain Name Systems Security Extensions Support
Windows Audit Function
Rights Management Services Client
Kết luận

1. AppLocker
AppLocker là giải pháp mới của Microsoft để điều khiển các ứng dụng có thể quản lý được (còn gọi là quản lý theo dạng whitelisting). AppLocker được tích hợp trực tiếp vào nhân của Windows 7, được xem như là một thay thế vượt trội hơn cho cơ chế chính sách giới hạn phần mềm dựa trên GPO (Group Policy Objects) còn gọi là SRPs (Software Restriction Policies). AppLocker bổ sung thêm nhiều policy quản lý phần mềm linh hoạt hơn.
Các tính năng điều khiển ứng dụng của AppLocker chỉ được tích hợp trong các stock-keeping unit (SKU) [1] Windows 7 Enterprise. Phiên bản Enterprise chỉ giới hạn cho những người dùng đăng kí Enterprise Agreement/Software Assurance (EA/SA). Tuy nhiên, cơ chế SRPs cung cấp khả năng quản lý ứng dụng cũ hơn phổ biến trên Windows XP và Vista thì có sẵn trong tất cả các phiên bản enterprise, business và Ultimate của Windows 7, Vista, XP (Các phiên bản Home mặc định không cho chỉnh sửa GPO). Hiện tại AppLocker không thay thế hoàn toàn cho SRPs, mà người dùng có thể sử dụng cả hai trên cùng một máy.

2. User Account Control

User Account Control (UAC) không phải là một kỹ thuật hay ứng dụng riêng rẽ mà là một tập hợp của những công nghệ nhằm phục vụ cho hai chức năng chính – thứ nhất và quan trọng nhất là tăng cường khả năng tương thích cho user khi chạy ứng dụng với tư cách standard user, và thứ hai là tăng cường khả năng bảo vệ cho hệ thống khi user chạy ứng dụng với tư cách administrator.
Tất cả các phiên bản Windows 7 đều có tích hợp UAC.

3. BitLocker

BitLocker được M$ đưa ra để đáp ứng nhu cầu full disk encryption (FDE) nhằm bảo vệ các file hệ thống và dữ liệu người dùng. Thông qua việc mật mã hóa nội dung của phân vùng ổ đĩa, nội dung sẽ được bảo vệ khỏi những truy cập trái phép. BitLocker được giới thiệu lần đầu trong Windows Vista và được cải tiến khá nhiều trong Win 7.
BitLocker chỉ có với các Enterprise SKU của Windows 7, giới hạn cho người dùng đăng kí EA/SA. Các policy cho BitLocker được quản lý qua GPO.

4. BitLocker To Go

Được phát triển trong cùng nhóm sản phẩm với BitLocker, và chia sẻ nhiều mã nguồn giống nhau, BitLocker To Go là giải pháp của M$ cho nhu cầu mật mã hóa những thiết bị lưu trữ di động. BitLocker To Go ra đời nhằm khắc phục những hạn chế quan trọng của phiên bản BitLocker trên Windows Vista.
BitLocker To Go chỉ có trên Enterprise SKU của Windows 7. Những policy của nó cũng được điều khiển thông qua GPO.

5. Internet Explorer 8 Security

IE 8 tiếp tục cuộc cách mạng trình duyệt của M$ với điểm nhấn về hỗ trợ những tiêu chuẩn Internet. IE8 được xây dựng trên những nền tảng bảo mật đã triển khai trong IE7.
Tất cả các phiên bản của Windows 7 đều có sẵn IE8. IE8 cũng có sẵn cho Vista, XP SP2.

6. DirectAccess

DirectAccess (DA) là giải pháp VPN cho phép người dùng từ xa có thể truy cập những tài nguyên mạng nội bộ một cách trong suốt. Có khái niệm tương đồng với giải pháp Server and Domain Isolation (SDI – được triển khai dưới nhiều dạng khác nhau từ Windows Server 2000, cho phép những kết nối được xác thực từ máy chủ đến máy chủ vào trong mạng nội bộ của một tổ chức), DA mở rộng khái niệm này để tạo ra những kết nối tin cậy đến người dùng ở những mạng từ xa (như mạng công cộng hay ở nhà hoặc mạng của tổ chức khác). DA tận dụng khả năng của IPSec và IPv6 có sẵn trong Windows 7 để thiết lập các phiên làm việc an toàn (có thể tùy chọn các cơ chế ESP, AH và mã hóa payload trong IPSec) để bảo vệ kênh truy cập vào tài nguyên của tổ chức từ những mạng không quản lý được.
DA chỉ có sẵn trong Enterprise SKU của Windows 7 và phiên bản Ultimate. Các policy cho DA được quản lý qua GPO. Ngoài ra để triển khai DA cần có 1 DA server ở vùng biên của mạng nội bộ, chạy Windows Server 2008 R2 hay mới hơn, đã join vào AD domain.

7. Windows Services Hardening

Được giới thiệu lần đầu ở Windows Vista, Windows Services Hardening (WSH) cho phép triển khai cơ chế Access Control Lists (ACLs) trên những services của Windows. Về cơ bản, các nhà phát triển có thể liệt kê những hành động cụ thể nào của các dịch vụ trên Windows được tương tác với những đối tượng cụ thể nào của mức hệ điều hành trên Widnows (cơ chế Whitelisting). Đây là một công nghệ bảo mật rất mạnh, bảo vệ hệ thống khỏi những xâm nhập nhắm vào các lỗ hổng có thể được nhúng vào trong những dịch vụ của hệ điều hành.
Tất cả các SKU của Windows 7 đều có WSH. WSH không được quản lý qua GPO mà thay vào đó là qua registry và các thiết lập cấu hình của từng máy. Cơ chế này được bật mặc định cho các dịch vụ của Windows.

8. Windows Firewall

Windows Firewall là tường lửa cá nhân hai chiều của M$ được tích hợp cho Windows 7. Cũng giống như nhiều công nghệ bảo mật khác trong Windows 7, firewall 2 chiều đã được giới thiệu lần đầu với Windows Vista, cùng với nền tảng thú vị Windows filtering. Về mặt chức năng, Windows Firewall giữ nguyên với Windows 7. Tuy nhiên về mặt cấu trúc, đã có một số thay đổi trong nền tảng Windows filter để xây dựng firewall. Nền tảng đó đã được thiết kế lại để trở nên theo module (modular) nhiều hơn.
Tất cả các phiên bản Windows 7 đều có Windows Firewall. Các policy của nó được điều khiển qua GPO.

9. ASLR, DEP and Safe Unlinking

Address Space Layout Randomization (ASLR) về cơ bản là kỹ thuật làm ngẫu nhiên hóa các bảng lời gọi hệ thống (system call) cho mỗi hệ thống Windows Vista lúc khởi động, tạo một nhân tố phát sinh đa dạng, khác nhau trên các hệ thống giống nhau. Bằng cách này, một đoạn mã tấn công vào một offset bộ nhớ nhất định sẽ có thể có hiệu quả trên một máy nhưng thất bại trên một máy khác giống y hệt. Như vậy đòi hỏi những tay viết mã độc phải dùng cách tấn công brute force hoặc không nhắm đến offset bộ nhớ nữa, cả hai cách sẽ gây khó khăn cho các hacker.
Data Execution Prevention (DEP) sử dụng sự hỗ trợ của phần cứng từ các bộ vi xử lí Intel và AMD để loại bỏ các cuộc tấn công chèn mã vào vùng nhớ (memory injection). DEP dùng phần cứng để áp dụng một luật “Không thực thi mã từ những vùng trong bộ nhớ đã được đánh dấu là dành cho dữ liệu”. Luật này ngăn chặn một tỉ lệ lớn các cuộc tấn công chèn mã vào vùng nhớ (chẳng hạn tấn công tràn bộ đệm).
M$ cũng thêm vào kỹ thuật Safe Unlinking ở Windows 7, có chức năng bảo vệ tương tự như DEP nhưng ở mức nhân hệ điều hành. Safe Unlinking là một đoạn mã ở mức kernel hỗ trợ cho việc cấp phát và thu hồi các vùng nhớ được thực hiện bởi Windows 7 kernel. Safe Unlinking thực hiện một loạt các kiểm tra trước khi bộ nhớ được thu hồi để đảm bảo là hacker không cố gắng xâm nhập vào hệ điều hành bằng cách được gọi là pool overrun (tương tự như buffer overflow, nhưng ở mức kernel).
Tất cả các phiên bản của Windows 7 đều có sẵn ASLR, DEP và Safe Unlinking.

10. USB Device Control

Hỗ trợ cơ chế điều khiển các thiết bị kết nối qua cổng USB dựa trên policy, bao gồm ngăn truy cập, cho phép truy cập đọc và ghi.
Cơ chế điều khiển thiết bị USB được tích hợp trong tất cả các phiên bản của Windows 7, được quản lý thông qua GPO.

11. Kernel Patch Protection & Signed Device Drivers với Win 7 64-bit

Kernel Patch Protection (KPP) [2] trước đây được gọi là PatchGuard là một đoạn mã ở mức kernel dùng để bảo vệ kernel Windows không bị kẻ tấn công đánh chặn, thay đổi mã nguồn (hay còn gọi là “hook”). KPP giám sát xem những tài nguyên trọng yếu được kernel sử dụng hay chính mã nguồn của kernel có bị thay đổi không. Nếu phát hiện ra một thay đổi trái phép vào những cấu trúc dữ liệu hoặc mã nguồn nhất định, hệ điều hành sẽ phát lệnh tắt toàn bộ hệ thống. Cơ chế này giúp ngăn chặn một số phần mềm xấu như key logger, nhưng đồng thời cũng có thể gây cản trở với những phần mềm bảo mật hợp lệ can thiệp vào kernel để giám sát các hoạt động ở mức kernel của Windows.
Vì những driver thiết bị được tải vào kernel mode có toàn quyền truy cập hệ thống nên M$ giới hạn lại khả năng cho phép user tải những driver thiết bị không rõ ràng vào hệ điều hành. Các driver giờ đây bắt buộc phải được digitally sign.
Tất cả các phiên bản 64 bit của Windows 7 đều được tích hợp KPP và yêu cầu device driver được chứng nhận (cũng như với Windows Vista 64 bit, Windows Server 2003 64 bit R2 và mới hơn). Các phiên bản 32 bit của Windows 7 không có chức năng này.

12. Network Access Protection

Network Access Protection (NAP) là giải pháp điều khiển truy cập vào tài nguyên mạng dựa trên một nhận dạng của máy client tuân theo chính sách an toàn của tổ chức.NAP cho phép quản trị mạng xác lập các mức truy cập vào mạng dựa trên client là ai, thuộc nhóm nào, và mức độ tuân thủ của client với chính sách của tổ chức. Nếu một client không thỏa mãn chính sách, NAP cung cấp cơ chế tự động thiết lập lại cho client đáp ứng đủ yêu cầu và sau đó tăng mức độ truy cập vào mạng cho client một cách tự động.
Nền tảng này được giới thiệu đầu tiên trong Windows Vista (sau đó là XP SP3) và về cơ bản không thay đổi gì trong Windows 7.
Tất cả các phiên bản business và enterprise của Windows 7 (Home và Starter không nằm trong diện này) đều có tích hợp NAP client.

13. Windows Defender

Windows Defender là công cụ chống phần mềm gián điệp (Anti-Spyware) đầu tiên được tích hợp trong Windows Vista và giữ nguyên với Windows 7.
Có sẵn trong tất cả các phiên bản của Windows 7.

14. Domain Name Systems Security Extensions Support

Domain Name Systems Security Extensions Support (DNSSEC) được định nghĩa đầu tiên vào năm 1999, bổ sung các chữ kí điện tử dựa trên cơ chế mật mã hóa vào các kết quả truy vấn DNS, giúp loại trừ khả năng một kẻ tấn công chèn vào các kết quả giả mạo. Tuy nhiên DNSSEC không ngăn chặn được tất cả các lỗ hổng liên quan đến DNS (chẳng hạn tấn công phishing hay lạm dụng sự cho phép trong nội bộ (authorized insider abuse)), và nó đòi hỏi toàn bộ nền tảng DNS phải được nâng cấp và có khả năng tạo cũng như xác nhận chữ ký điện tử. Riêng Windows 7, chương trình DNS client được tích hợp có thể bảo vệ giao tiếp ở mức cuối (last-hop communication) giữa client và DNS server, và nó cũng có khả năng kiểm tra server có công nhận một vùng (zone) được ký điện tử hay không.
Chức năng DNSSEC được hỗ trợ lần đầu trên Windows 7 và có sẵn cho tất cả các phiên bản, gồm cả Home và Starter. Đối với phiên bản Enterprise, DNSSEC được điều khiển thông qua GPO.

15. Windows Audit

Windows Audit subsystem được giới thiệu với Windows Vista và được cải tiến trong Windows 7. Nó cung cấp cơ chế sàng lọc chi tiết các record của tất cả các sự kiện trong Windows 7 trong một audit log.
Có sẵn trong tất cả các SKU Windows 7 và Windows Server 2008. Audit policy của Windows là một phần của Security Policy trong GPO và được quản lý thông qua GPO.

16. Rights Management Services Client

M$ tích hợp một chương trình Rights Management Services (RMS) client vào Windows 7. RMS là công nghệ quản lý giấy phép số của M$ (Digital Rights Management – DRM) ra đời năm 2002. RMS client được giới thiệu đầu tiên trong Vista và giữ nguyên với Windows 7.
Tất cả các phiên bản business và enterprise của Windows 7 đều được tích hợp.

17. Kết luận

Nhìn chung, M$ không ngừng đẩy mạnh các tính năng về bảo mật cho hệ điều hành chiến lược của mình. Tuy nhiên nhiều tính năng chỉ có cho người dùng Enterprise (có đăng kí EA/SA) nên không phải mọi người sử dụng Windows 7 đều tiếp cận được với các công nghệ này. Trong bài viết tới ta sẽ đi sâu hơn 1 chút, phân tích một số ưu, khuyết điểm chính của những công nghệ này, để xem thật sự M$ bảo vệ người sử dụng được đến mức nào.

Vượt tường lửa bằng phần mềm, proxy và “anonymizer web” Tháng Chín 28, 2010

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Tài liệu này không đề cập đến lý thuyết và các vấn đề của tường lửa, mà chỉ trình bày các cách vượt tường lửa ngắn gọn. Vì vượt tường lửa của các xứ độc tài (mà Việt Nam là một) là một hình thức rượt đuổi – khi người ta tìm ra được một cách vượt tường lửa thì chế độ độc tài lại tìm cách khóa lại, rồi người ta lại tìm một cách khác …. – do đó tài liệu này chỉ hữu ích nếu nó làm giúp được người dùng biết cách vượt tường lửa hơn là cung cấp nơi vượt tường lửa.

1. Dùng phần mềm đặc biệt để vượt tường lửa:

Có một số phần mềm có thể dùng trong việc vượt tường lửa để xem các trang web bị ngăn chận.

- Tor: http://www.torproject.org/ Sau khi download về, cần phải định hình browser. Để tiện gọn hơn, dùng torpark là một gói phần mềm miễn phí sẵn sàng để sử dụng mà không cần cài đặt gì cả. Download xuống và dùng thôi. Bạn tìm phần mềm torpark trên net, dùng keyword “torpark”. Torpark đã ngừng lại ở ấn bản 1.5.0.7. Thay thế nó là xB Browser.

- xB Browser: http://xerobank.com/xB_Browser.php. Phần mềm này là hậu thân của torpark. Nếu sử dụng với tính cách cá nhân thì bạn có thể dùng xB Browser miễn phí. Download nó xuống, cài đặt và dùng xB Browser như bạn dùng IE hay FireFox để vượt tường lửa xem các trang web bị chận.

- FreeGate: http://www.dit-inc.us/freegate Phần mềm miễn phí do công ty Dynamic Internet Technology (DIT) thực hiện để giúp người sử dụng tại Trung Quốc vượt tường lửa. Chỉ cần download và chạy. Phần mềm sẽ tự động đi tìm các proxy servers, định hình trong IE browser. Bạn dùng IE sau đó để xem các trang web bị chận.

- UltraSurf: http://www.ultrareach.com/company/download.htm Vì các trang web của Pháp Luân Công bị chận bởi tường lửa Trung Quốc họ mới thành lập công ty UltraReach Internet Corp để thực hiện phần mềm UltraSurf miễn phí giúp cho người dân Trung Quốc vượt tường lửa. Tuy nhiên bất cứ ai ở các quốc gia độc tài cũng dùng phần mềm này được để vượt tường lửa của xứ họ.

2. Dùng proxy servers để vượt tường lửa:

Proxy servers là những server làm trung gian để lướt mạng và qua đó giúp vượt tường lửa. Proxy servers trong dạng địa chỉ IP và bạn phải vào trong browser IE, FireFox, v.v… để cài địa chỉ IP của proxy server đó vào. Sau đó bạn dùng browser để lướt mạng xem những trang web bị chặn trước đó.

a) Tìm danh sách các proxy servers: Có những trang như www.proxy4free.com liệt kê các proxy servers miễn phí. Nếu bạn không vào được trang trên thì vào net tìm “free proxy servers”.

b) Cài địa chỉ IP của proxy servers vào browser: Địa chỉ IP của proxy servers trong dạng số a.b.c.d và có thể có số cổng (port number). Thí dụ: 63.149.98.48, port 80.

- Internet Explorer: Vào Tools, Internet Options, Connections, LAN settings, rồi trong phần “Proxy server”, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

- FireFox: Vào Tools, Options, Advanced, Network, bấm vào nút Settings, chọn “Manual proxy configuration”, rồi trong hàng HTTP Proxy, điền vào địa chỉ IP và số cổng.

3. Dùng Anonymizer web / web proxy để vượt tường lửa:

Anonymizer là những dịch vụ giúp người dùng lướt mạng một cách kín đáo và giúp đi xuyên qua tường lửa. Dịch vụ anonymizer căn bản chỉ là những trang web proxy. Người ta vào các trang web đó, rồi đánh vào địa chỉ của trang web đã bị ngăn chận. Các trang web anonymizer sẽ làm công việc trung gian chuyển tải nội dung trang web bị chận xuống đến máy vi tính của người lướt mạng.

Quý bạn không cần phải download phần mềm nào cả, không cài đặt gì cả, không sửa đổi gì trong browser của mình cả, chỉ duy nhất đến trang web cung cấp dịch vụ anonymizer (một số miễn phí, một số khác tính tiền)

Những trang anonymizer phổ thông như:
- www.anonymouse.org
- www.hidemyass.com
- www.shadowsurf.com
- www.anonymizer.com
- https://proxify.com/
- www.proxyforall.com
- www.proxeasy.com

Nếu những trang trên đã bị chế độ độc tài biết đến và chận lại thì bạn vào các trang tìm kiếm như google.com, yahoo.com, v.v… để đi tìm cách dịch vụ khác. Chữ (keyword) đi tìm là “anonymizer”.

can ban sim so dep Tháng Chín 28, 2010

Posted by hailong92 in Uncategorized.
1 comment so far

toi can ban sim so dep
0977 40 40 77
0987 868 898
gia thuong luong.lien he theo so:0987 868 898

Tăng thời hạn dùng thử của Windows 7 Tháng Mười Hai 15, 2009

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Bạn có biết rằng có thể cài đặt Windows 7 mà không cần dùng cd key và dùng nó trong 30 ngày. Không những thế, bạn cũng có thể mở rộng thời gian dùng thử từ 30 lên 120 ngày mà không cần dùng đến key.

Cách cơ bản là vào lúc kết thúc 30 ngày, bạn cần chạy một câu lệnh nho nhỏ và khởi động lại máy tính của bạn, vào thời điểm hơn 30 ngày, thời hạn dùng của Windows 7 sẽ tăng lên thành 120 ngày.

Mở rộng thời gian dùng thử

Điều đầu tiên bạn làm là kiểm tra xem còn bao nhiêu ngày trong thời hạn dùng thử của bạn. Bạn có thể làm việc này bằng cách nhấp chuột phải vào My Computer và chọn Properties.

Tại phần dưới cùng của cửa sổ này, bạn sẽ thấy thời gian dùng thử còn lại (trong trường hợp này là 29 ngày).

Bây giờ là quá trình hack để mở rộng thời gian dùng thử lên, bạn vào Command prompt trong thanh Start. Sau đó nhấn chuột phải lên nó và chọn Run as administrator.

Sau đó, bạn gõ vào dòng lệnh sau:

Slmgr –rearm

Sau đó, bạn sẽ thấy hộp thoại sau xuất hiện, nói rằng câu lệnh trên đã được thực hiện thành công, và yêu cầu bạn khởi động lại máy.

Kiểm tra lại System Properties một lần nữa, bạn sẽ thầy thời gian dùng thử là 30 ngày chứ không phải 29 ngày như trước đây.

Và lẽ dĩ nhiên bạn nên làm điều này khi thời gian dùng thử gần hết, lúc đó nó sẽ tăng lại thời gian dùng lên thành 30 ngày như cũ.

Vô hiệu hóa hệ thống cảnh báo trong Windows 7 Tháng Mười Hai 15, 2009

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Tương tự như Vista (và XP) Windows 7 sẽ cảnh báo bạn bằng những pop-up balloon nếu firewall, anti-virus hay auto-updates… không ở trạng thái active. Bài này sẽ hướng dẫn bạn các bước để tắt các pop-up cảnh báo đó đi.

1. Bật Control Panel. Tại phần System and Security, chọn Review your computer’s status.

2. Tại menu bên trái, chọn Change Action Center settings.

3. Bây giờ bỏ chọn những thông báo mà bạn không muốn nhận trong phần Securtiy messages và Maintenance settings.

4. Sau đó, nhấn OK. Sẽ không còn bất kì một popup cảnh báo nào mỗi khi bạn disable firewall hoặc dùng một trình anti-virus mà Windows 7 không biết…

8 thủ thuật hữu dụng cho Windows 7 Tháng Mười Hai 15, 2009

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Chống phân mảnh cho nhiều ổ cứng đồng thời, hay tự động điều chỉnh âm lượng khi đang thực hiện cuộc gọi VoIP… là những tính năng mới trên Windows 7 mà nhiều người chưa biết.

Nếu ai đã từng có cơ hội dùng thử hệ điều hành chuẩn bị ra mắt của Microsoft chắc chắn sẽ hiểu rằng Microsoft đã có khá nhiều sự thay đổi cơ bản trong phiên bản này so với các đàn anh của nó. Thanh công cụ mới, hệ thống menu mới, hình ảnh đại diện (thumbnail) có kích thước lớn hơn… nhưng ẩn sâu bên trong đó còn là một loạt những tính năng mà không phải người dùng nào cũng khám phá ra.

1. Chống phân mảnh siêu tốc

Dữ liệu lưu trên ổ cứng thường bị phân tán sau một thời gian hoạt động. Điều này khiến quá trình hoạt động, tốc độ truy xuất dữ liệu của hệ thống sẽ bị giảm đi và chống phân mảnh ổ cứng là việc cần làm thường xuyên. Tuy nhiên đây lại là một công việc khó chịu trên các phiên bản Windows trước bởi nó mất khá nhiều thời gian. Microsoft đã cải thiện vấn đề này trên Windows 7 bằng việc tăng tốc quá trình chống phân mảnh đồng thời cho phép người dùng thực hiện thao tác này trên nhiều phân vùng ổ cứng cùng một lúc.

Tất cả những gì người dùng cần làm là gõ dòng lệnh: defrag /c /h /u /r

Trong đó /r là để chống phân mảnh nhiều ổ cứng cùng một lúc, /h để tăng tốc quá trình này, /u để hiển thị toàn bộ quá trình đang diễn ra.

2. Khởi động IE nhanh hơn

Một số add-on trên trình duyệt Internet Explorer (IE) khởi động khá ì ạch khiến quá trình khởi động và làm việc của IE cũng từ đó chậm chạp theo. Kể từ phiên bản IE 8 người dùng đã có thể can thiệp vào vấn đề này. Chọn menu Tool > Manager Add-ons, chọn Load Time trong cột bên phải và bạn sẽ thấy ứng dụng nào đang làm cho IE của bạn chậm đi. Hãy tắt nó nếu không cần thiết.

3. Chạy ứng dụng phụ bị chặn

Microsoft đã nâng cao tính bảo mật trên Windows 7 bằng cách không cho phép chạy các chương trình phụ trợ nếu chức năng quản lý tài khoản người dùng (UAC) bị tắt. Điều này giúp cho các chương trình chưa được kiểm chứng (và có thể chứa mã độc) không thể chạy được trên Windows. Nhưng nếu bạn đã tắt UAC mà vẫn muốn chạy một chương trình nào đó với một chút ít rủi ro, bạn vẫn có thể làm được.

Tại menu Run, gõ REGEDIT >> HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Sidebar\Settings. Bấm phải chuột để tạo một DWORD mới, đặt tên là AllowElevatedProcess và nhập giá trị 1. Thoát khỏi Registry và khởi động chương trình của bạn.

4. Thay thế tổ hợp phím Alt + Tab

Lâu nay chúng ta thường có thói quen dùng tổ hợp phím Alt+ Tab để chuyển đổi qua lại giữa nhiều cửa sổ khác nhau. Nhược điểm của phím tắt này là chúng ta khó có thể tìm lại được cửa sổ cần thiết một cách nhanh chóng bởi buộc phải lướt qua tất cả các loại cửa sổ (của nhiều loại chương trình, ứng dụng khác nhau). Windows 7 có cách giải quyết: Bấm và giữ phím Ctrl rồi nhấp chuột vào biểu tượng Explorer hoặc biểu tượng của chương trình nào đó.

5. Tắt chức năng sắp xếp cửa sổ thông minh

Windows 7 có một tính năng mới khá hay đó là người dùng có thể tự sắp xếp các cửa sổ của mình một cách tùy ý, ví dụ chỉ cần kéo một cửa sổ lên phía trên của màn hình, cửa sổ này sẽ tự động mở ở trạng thái toàn màn hình (full screeen). Nhưng nếu chúng ta đã quen với sự đơn giản cổ điển của các phiên bản Windows trước, chúng ta có thể tắt tính năng này đi bằng cách khởi động REGEDIT >> HKEY_CURRENT_USER\Control Panel\Desktop, thay đổi giá trị của WindowArrangementActive về 0. Khởi động lại máy.

6. Tùy chỉnh chức năng System Restore

Kể từ Windows Vista người dùng đã có thể điều chỉnh một chút vào chức năng ghi nhớ tình trạng hệ thống và chọn thời điểm khôi phục lại (System Restore). Ở Windows 7, chúng ta còn có thể làm nhiều hơn thế. Trong menu Start bấm phải chuột vào biểu tượng Computer> Properties > System Protection > Configure, chọn Max Usage nếu bạn muốn Windows lưu lại nhiều thời điểm khôi phục (nhưng tốn nhiều bộ nhớ) hoặc chọn các giá trị nhỏ hơn tùy ý.

7. Chạy chương trình từ một tài khoản khác

Nếu bạn đăng nhập vào hệ thống thông qua một tài khoản khách (Guest) hoặc một tài khoản bị giới hạn (Limited), để phòng chống virus nhưng có một số chương trình chỉ có thể chạy trong tài khoản cấp cao nhất (quản trị – administrator). Tính năng Run as có thể khắc phục được nhược điểm này mà không yêu cầu bạn phải đăng nhập vào nhiều tài khoản. Bấm phải chuột vào biểu tượng của một chương trình nào đó, chọn Run as trong menu hiện ra và sau đó chọn tài khoản trong danh sách.

Thực ra chức năng Run as đã xuất hiện ở Windows XP nhưng sang Windows Vista Microsoft đã loại bỏ nó.

8. Tùy chỉnh âm lượng

Theo mặc định, Windows 7 sẽ tự động giảm âm lượng của tất cả các chương trình nếu nó phát hiện bạn đang thực hiện một cuộc gọi VoIP. Tuy nhiên, điều này có thể làm bạn không thích hoặc bạn muốn tắt tất cả âm thanh của các chương trình khác nhằm thực hiện cuộc gọi hãy bấm chuột phải lên biểu tượng loa ở thanh tác vụ chọn Sound> Communications và chọn tính năng nào mà bạn muốn.

Để gỡ bỏ password của Windows Vista Tháng Mười Hai 9, 2009

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Để gỡ bỏ password của Windows Vista, bạn chỉ cần dùng đĩa có chức năng Hiren�s Boot (phiên bản 8.9) trở lên. Khởi động máy từ đĩa Boot, màn hình đầu tiên chọn mục 9, next, chọn tiếp 4. Password & Registry Tools, chọn 1. Active Password Changer (NT/2000/XP/2003/Vista). ở màn hình kế tiếp gõ số 1 rồi nhấn Enter tương ứng với mục 1. Choose Logical Drive. Tiếp đó chọn vùng chứa SAM và Enter (nếu Windows Vista được cài ở ổ C thì bạn gõ số 0 và Enter). Sau đó chương trình sẽ dò tìm file SAM và khi nhận ra vị trí của file SAM (0\Windows\System32\Config\SAM), bạn nhấn Enter để kết thúc.

Lúc này đã có thể đăng nhập vào Windows Vista bình thường. Tất cả các tài khoản của hệ thống sẽ được liệt kê, bạn gõ số tương ứng với tài khoản cần Reset password rồi nhấn Y để xác nhận. Một thông báo mới xuất hiện cho biết việc Reset pass đã thành công, sau cùng nhấn nhấn Enter.

Cách đăng nhập Windows XP khi quên hoặc làm mất mật khẩu Tháng Mười Hai 9, 2009

Posted by hailong92 in Uncategorized.
add a comment

Đăng nhập vào với quyền quản trị viên (Administrator) để đặt lại mật khẩu

Nếu bạn không thể đăng nhập vào Windows bằng cách sử dụng tài khoản người dùng cụ thể (bao gồm cả các tài khoản Administrator và Computer Administrator), thì vẫn có thể đăng nhập với một tài khoản khác cũng có khả năng quản trị bằng cách làm theo những bước sau:

Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professional

1. Đăng nhập vào Windows bằng cách sử dụng tài khoản quản trị viên, tài khoản mà bạn phải nhớ mật khẩu

Chú ý: Bạn không thể đăng nhập như thường xuyên sử dụng tài khoản Administrator hay Computer Administrator với máy tính nền tảng Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professinal trong một nhóm làm việc. Để đăng nhập vào với quyền Administrator hoặc Computer Administrator, bạn phải khởi động Windows XP trong chế độ Safe mode.

a. Khởi động lại máy tính

b. Nhấn phím CTRL + ALT + DELETE hai lần và sau đó nhập vào tên của tài khoản quản trị (thường là administrator)

c. Trong hộp Password, nhập vào mật khẩu của quản trị viên sau đó kích OK

Chú ý: Nếu mật khẩu của tài khoản quản trị là trống thì không gõ gì trước khi nhấn OK

2. Kích vào Start, chọn Run.

3. Trong phần Open, nhập vào dòng lệnh sau và kích OK: control userpasswords2
4. Kích vào tài khoản người dùng mà bạn quên mật khẩu, và sau đó kích vào Reset Password.

5. Gõ mật khẩu mới trong New password và Confirm new password, sau đó kích OK.

Cảnh báo: Nếu bạn đặt lại mật khẩu cho tài khoản người dùng trong Windows XP Professional, những thông tin sau đây cho người dùng không còn nữa:

- Thư điện tử đã được mã hóa.

- Mật khẩu được lưu lại trên internet hoặc nhớ trong máy tính

- Mọi file đã được người dùng mã hóa

Giờ thì bạn có thể đăng nhập vào Windows với tài khoản người dùng và mật khẩu mới. Những phần sau sẽ từng bước hướng dẫn để tạo lại mật khẩu cho một tài khoản điển hình trong chế độ Safe Mode bằng cách sử dụng Administrator (hoặc Computer Administrator).

Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professional trong nhóm làm việc

Đăng nhập vào với vai trò Administrator và đặt lại mật khẩu, thực hiện các bước sau:

1. Khởi động lại máy tính, sau đó Power On Self Test (POST), nhấn phím F8.

2. Trên menu Windows Advancek Options, sử dụng các phím mũi tên để lựa chọn Safe mode (chế độ an toàn), và sau đó ấn phím enter.

3. Khi có dấu nhắc để lựa chọn hệ điều hành khởi động, bạn hãy lựa chọn Microsoft Windows XP edition(edition là phiên bản của Windows XP đã cài), và sau đó ấn phím Enter.

4. Trên màn hình To begin, click your user name, kích vào Administrator.

5. Gõ vào mật khẩu quản trị viên, sau đó ấn phím enter.

Chú ý: Trong vài trường hơp, mật khẩu Administrator có thể thiết lập một mật khẩu trống. Trong trường hợp này, không cần gõ mật khẩu trước khi ấn phím Enter.

6. Kích Yes để đồng ý Windows chạy ở chế đô an toàn.

7. Kích vào Start, chọn Control Panel (hoặc vào Settings, sau đó kích vào Control Panel).

8. Kích vào User accounts.

9. Kích vào tài khoản người dùng có mật khẩu bạn muốn đổi

10. Kích vào Change the password nếu bạn muốn giữ lại mật khẩu, hoặc chọn Remove password nếu không muốn sử dụng password. Nếu gỡ bỏ mật khẩu, thì bỏ qua bước 11.

11. Gõ mật khẩu mới dành cho người dùng, và chọn Change Password.

12. Đóng công cụ User Accounts, sau đó khởi động lại máy tính

Windows XP Professional trong một vùng

Đăng nhập vào với quyền Administrator để đặt lại mật khẩu, làm theo những bước sau:

1. Trong hộp thoại Welcome to Windows, nhấn tổ hợp phím Ctrl + Alt + Delete.

2. Gõ vào thông tin đăng nhập cho tài khoản Administrator, gồm cả mật khẩu, sau đó kích OK.

Chú ý: Mật khẩu Administrator có thể thiết lập một mật khẩu trống. Trong trường hợp này, không gõ mật khẩu trước khi chọn OK.

3. Kích Start, chọn Run, gõ compmgmt.msc, sau đó kích vào OK.

4. Trong hộp thoại Computer Management (Local), mở rộng Local Users and Groups.

5. Kích vào thư mục Users

6. Trong phần bên phải của cửa sổ Computer Management, kích đúng vào tài khoản người dùng của mật khẩu bạn muốn đặt lại, sau đó chọn Set Password.

7. Kích vào Proceed.

8. Trong hộp New password, gõ mật khẩu mới cho tài khoản người dùng.

9. Gõ lại mật khẩu trong hôp thoại Confirm password, và chọn OK

10. Kích vào OK để mật khẩu mới được thiết lập.

11. Thoát khỏi Comuter Management, sau đó khởi động lại máy tính.

Theo Microsoft

——————————————————————————–

nongdan_hamvui07-01-2007, 12:16 AM
Cách này chỉ lấy được mật khẩu đối với tài khoản đã được set toàn quyền là Administrator….:smi22:
Còn nếu tài khoản là Administrator đã được đặt mật khẩu đường hoàng ( không phải kí tự trống như trên :smi22::smi22:) của hệ thống thì pó hand với những cách trên.
Tuy nhiên chúng ta vẫn có cách lấy lại pass của tài khoản này bằng cái dùng đĩa Hiren’s bootCD, cách này có mang tích chất phá hoại nên mình không bàn ở đây…..moị người thông cảm

——————————————————————————–

pink_panthez07-04-2007, 06:53 PM
Mấy bác cho em hỏi ỗ đĩa C là NTFS không boot CD được quên pas vào windown , pass vào Sadmin cũng không được vậy có cách nào để lấy pass ko vâyh :(

——————————————————————————–

tremocoivo07-04-2007, 10:04 PM
Mấy bác cho em hỏi ỗ đĩa C là NTFS không boot CD được quên pas vào windown , pass vào Sadmin cũng không được vậy có cách nào để lấy pass ko vâyh :(

Lấy pass lại thì không được nhưng xóa thì OK, bác dùng đĩa HirenBootCD ấy.

——————————————————————————–

germany07-06-2007, 06:42 AM
Mấy pác này chuyên xóa pass đây, hèn gì mấy cái máy của tui cài pass 3 , 4 cấp mà vẫn vào được:smi12: :smi12: . Híc WIn XP pro có bản quyền đàng hoàng. Hiren boot ghê quá!
Hum nào về phá thử máy ông anh ở nhà mới được, máy nó chứa nhiều” đồ” hay.:smi97: :smi97:

——————————————————————————–

hermyone161007-08-2007, 09:44 PM
Cách này chỉ lấy được mật khẩu đối với tài khoản đã được set toàn quyền là Administrator….:smi22:
Còn nếu tài khoản là Administrator đã được đặt mật khẩu đường hoàng ( không phải kí tự trống như trên :smi22::smi22:) của hệ thống thì pó hand với những cách trên.
Tuy nhiên chúng ta vẫn có cách lấy lại pass của tài khoản này bằng cái dùng đĩa Hiren’s bootCD, cách này có mang tích chất phá hoại nên mình không bàn ở đây…..moị người thông cảm
Tui thấy dùng Hiren’s bootCD là một cách đơn giản và hiệu quả, và nó là phương án cuối cùng mà chúng ta có thể làm nếu các cách đã nói không có tác dụng nữa. Bài HD dùng Hiren’s bootCD để xóa pass đã từng được đăng trên LBVMVT rồi, nên dù có xuất hiện ở đây thì cũng không được liệt vào …hướng dẫn phá hoại đâu!

——————————————————————————–

myfamily07-21-2007, 06:22 PM
Nếu các bạn đang ở trong 1 tài khoản nằm trong group administrator
Thì các bạn có thể change pass nhanh chóng bằng lệnh sau
Start, Run, Cmd
đánh lệnh sau : net user [Tên user cần đổi pass] [pass mới]

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.